LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
6.5 Kỹ năng tuyên truyền miệng gồm: kỹ năng chuẩn bị và kỹ năng tiến hành hoạt động tuyên truyền miệng.
Tuyên truyền miệng là hoạt động dùng lời nói trực tiếp tác động đến một nhóm đối tượng xác định nhằm mục đích nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và cổ vũ tính tích cực hành động của họ.
Chỉ thị số 17-CT/TW, ngày 15/10/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới” nêu rõ: ‘công tác tuyên truyền miệng, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất, … Tuyên truyền miệng và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên là một mắt khâu quan trọng, trực tiếp nối liền Đảng, Nhà nước với nhân dân, Trung ương với địa phương và cơ sở để vừa đưa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước đến với nhân dân, vừa nắm bắt, phản ánh trung thực, kịp thời tư tưởng, tâm tư, nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước; gắn truyền đạt với đối thoại, trao đổi, truyền tải trực tiếp những thông tin nội bộ cần thiết phục vụ công tác tư tưởng đối với tất cả các đối tượng ở mọi hoàn cảnh, điều kiện một cách linh hoạt”.
Tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được xác định là quan trọng và cần thiết. Vì vậy, đòi hỏi báo cáo viên muốn thực hiện tốt trọng trách này phải thực hiện thuần thục các kỹ năng tuyên truyền miệng cơ bản nhất.
Kỹ năng tuyên truyền miệng là sự vận dụng có hệ thống, linh hoạt kiến thức, kinh nghiệm vào các thao tác trong chuỗi hoạt động dùng lời nói trực tiếp tác động đến một nhóm đối tượng xác định một cách phù hợp để thực hiện hiệu quả chuỗi hoạt động đó.
Hoạt động dùng lời nói tác động vào nhóm đối tượng xác định được nhìn từ góc độ thời gian sẽ bao gồm hai quá trình nối tiếp nhau: chuẩn bị và tiến hành hoạt động tuyên truyền miệng. Do vậy kỹ năng tuyên truyền miệng là tập hợp những kỹ năng thuộc hai quá trình này bao gồm: kỹ năng chuẩn bị và kỹ năng tiến hành hoạt động tuyên truyền miệng.
Đi sâu phân tích kỹ năng chuẩn bị hoạt động tuyên truyền miệng, có thể thấy, để hoạt động tuyên truyền miệng được diễn ra một cách khoa học, chuyên nghiệp, báo cáo viên phải tiến hành các thao tác chuẩn bị nội dung bài tuyên truyên miệng và các thao tác ngoài nội dung. Trong đó, chuẩn bị nội dung là công đoạn cần đầu tư nhiều thời gian và công sức nhất, góp công lớn vào hiệu quả hoạt động của báo cáo viên.
Để khâu trình bày thuận lợi phải có dàn ý tốt. Muốn vậy, báo cáo viên phải tiến hành 5 thao tác sau: Nghiên cứu đặc điểm đối tượng; Xác định mục đích, nội dung; Thu thập, xử lý tài liệu; Lập dàn ý và Lựa chọn ngôn ngữ, văn phong.
Về nghiên cứu đối tượng tiếp nhận bài tuyên truyền miệng
Muốn công tác tuyên truyền miệng hiệu quả, báo cáo viên phải căn cứ vào người nghe thực tế mà xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, phương tiện tác động. Đối tượng khác nhau, nội dung, phương pháp, hình thức trình bày phải khác nhau. Do vậy, nghiên cứu đối tượng là công việc đầu tiên người nói phải tiến hành. Nghiên cứu đối tượng gồm những nội dung: Nghiên cứu đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu: các đặc điểm về thành phần xã hội, giai cấp, nghề nghiệp, học vấn, giới tính, tuổi tác,... của đối tượng; Nghiên cứu các đặc điểm về tư tưởng và tâm lý - xã hội: hệ thống các quan điểm, chính kiến, động cơ, khuôn mẫu tư duy, tâm trạng và trạng thái thể chất... của họ; Nghiên cứu về nhu cầu, thị hiếu thông tin; thái độ của người nghe đối với nguồn thông tin và nội dung thông tin; con đường, cách thức thỏa mãn nhu cầu thông tin của đối tượng. Trên cơ sở nghiên cứu về các đặc điểm này mà xác định mục đích, nội dung, phương pháp nói phù hợp. Nếu người nghe là nhóm trẻ cần tăng thời gian đối thoại, hạn chế thuyết trình. Nếu người nghe là cán bộ đảng viên cần đưa nhiều ví dụ về tình hình thời sự quốc tế và trong nước. Nếu người nghe là phụ nữ nên đưa ví dụ về chăm sóc gia đình, chăm sóc sắc đẹp, nuôi dạy con cái, …
Về xác định mục đích, nội dung bài tuyên truyền miệng
Xác định mục đích có ý nghĩa định hướng đối với thao tác chuẩn bị nội dung bài tuyên truyền miệng.
Xét ở cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, nội dung bài tuyên truyền miệng có thể đề cập đến các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, an ninh, quốc phòng, đối ngoại; từ những vấn đề lý luận, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến các sự kiện đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội... Nhưng để tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, đạt mục đích tuyên truyền đặt ra, nội dung bài tuyên truyền miệng, phải đạt tới các yêu cầu: (1) Thông tin cung cấp cho người nghe phải mới; (2) Thông tin phải thiết thực, đáp ứng nhu cầu của một nhóm công chúng cụ thể; (3) Thông tin phải mang tính thời sự, cấp thiết; (4) Thông tin phải đảm bảo tính tư tưởng và tính chiến đấu.
Bài nói có thể chỉ đạt một trong ba hoặc cả ba mục đích nhưng nhất thiết phải đảm bảo đủ bốn yêu cầu về nội dung. Tuỳ vào mỗi thể loại để tăng giảm hàm lượng của 4 yêu cầu nói trên. Nếu là thể loại Giới thiệu Nghị quyết Đảng thì yêu cầu số 4 phải đậm đặc nhất. Nếu là thể loại Nói chuyện thời sự thì yêu cầu số 3 giữ ngôi vị quán quân. Nếu là Báo cáo chuyên đề thì yêu cầu số 1 giữ nguyên vị trí.
Về lựa chọn, nghiên cứu, sử dụng tài liệu cho bài tuyên truyền miệng
Thu thập, lựa chọn tài liệu là một nhiệm vụ quan trọng vì nó là căn cứ để xây dựng nội dung bài tuyên truyền miệng và là yếu tố tạo ra chất lượng cho một buổi nói chuyện.
Nguồn tài liệu quan trọng nhất mà báo cáo viên sử dụng để xây dựng dàn ý bài tuyên truyền miệng được lấy từ hội nghị báo cáo viên cấp trên, từ các tài liệu học tập nghị quyết do Ban Tuyên giáo Trung ương phát hành, từ phương tiện truyền thông đại chúng. Người làm công tác tuyên truyền miệng phải có kiến thức vững chắc và hệ thống về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tri thức của nhận loại để trên cơ sở đó đánh giá, phân tích các sự kiện, hiện tượng được đề cập đến trong bài nói.
Khi sử dụng các tài liệu mật, thông tin nội bộ cần xác định rõ vấn đề nào không được nói, hoặc chỉ được nói đến đối tượng nào. Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, cần thiết phải định hướng thông tin theo quan điểm của Đảng. Thu thập và xử lý tài liệu đòi hỏi các báo cáo viên phải đầu tư thời gian và trí tuệ. Lượng đầu tư này tỉ lệ thuận với thành công của báo cáo viên ở các công đoạn tiếp theo. Cần tiến hành thu thập thông tin, tạo ra tài liệu sơ cấp đưa vào bài nói cho sinh động và hấp dẫn, mới mẻ.
Về lập dàn ý bài tuyên truyền miệng
Dàn ý bài tuyên truyền miệng là công cụ báo cáo viên dùng để tiến hành buổi truyền đến người nghe. Cần xây dựng nhiều phương án cho dàn ý, từ đó chọn phương án tối ưu. Phương án tối ưu là phương án phù hợp với nhóm đối tượng cụ thể, xác định. Quá trình lập dàn ý có thể nâng cấp dần từ thấp lên cao, từ sơ bộ đến chi tiết. Đối với những chủ đề quan trọng, có phạm vi tác động bao trùm, được trình bày trước những đối tượng có trình độ cao, dàn ý phải được chuẩn bị chi tiết đến từng luận cứ.
Dàn ý được kết cấu bởi ba phần: Phần mở đầu, thân bài và phần kết luận. Mỗi phần có chức năng, yêu cầu, phương pháp riêng.
(1) Phần mở đầu của bài tuyên truyền miệng là phần dẫn nhập cho nội dung cần truyền đạt, là phương tiện giao tiếp ban đầu với người nghe, kích thích sự hứng thú của người nghe đối với nội dung bài tuyên truyền miệng. Phần này tuy ngắn, nhưng rất quan trọng, nhất là với đối với đối tượng mới tiếp xúc lần đầu, đối tượng là người có trình độ học vấn cao. Phần mở đầu phải tự nhiên và gắn với các phần khác của bài tuyên truyền miệng cả về nội dung và phong cách ngôn ngữ; Phải ngắn gọn, độc đáo và hấp dẫn đối với người nghe. Mở đầu thường chiếm 15% tổng lượng bài tuyên truyền miệng.
Có nhiều cách mở đầu nhưng có thể khái quát thành hai cách mở đầu chủ yếu: trực tiếp và gián tiếp. Mở đầu trực tiếp là cách mở đầu giới thiệu thẳng với người nghe nội dung sẽ trình bày. Mở đầu trực tiếp được cấu trúc bởi hai phần: nêu chủ đề chung bài tuyên truyền miệng và các chủ đề bộ phận/nội dung chính phần thân bài. Mở đầu gián tiếp là cách mở đầu không giới thiệu thẳng chủ đề bài nói mà dẫn ra một nội dung khác có liên quan, gần gũi với chủ đề chính nhằm tạo bối cảnh, chuẩn bị sân khấu cho chủ đề xuất hiện. Cách mở đầu này tạo cho bài tuyên truyền miệng sự sinh động, hấp dẫn đối với người nghe, có thể giúp họ chuyển từ tâm thế trung lập sang khẳng định, từ phủ định sang khẳng định.
Mở đầu gián tiếp được cấu trúc bởi ba phần: dẫn dắt vấn đề, nêu chủ đề chung và các chủ đề bộ phận/nội dung chính phần thân bài
(2) Phần thân của bài tuyên truyền miệng là phần quan trọng nhất của bài tuyên truyền miệng, chiếm khoảng 70% dung lượng toàn bài. Nhiệm vụ trọng tâm nhất của phần này là báo cáo viên phải nêu bật được nội dung cốt lõi, phân tích, giải thích, chứng minh làm sáng tỏ vấn đề cần tuyên truyền để từ đó giúp người nghe biết, hiểu, tin tưởng, có động lực thực hiện hành vi mà báo cáo viên kêu gọi trong buổi tuyên truyền.
Có một số kiểu bố cục phần thân của bài tuyên truyền miệng như sau: Kết cấu theo thời gian, Kết cấu theo trật tự không gian, Kết cấu theo trật tự nhân quả, Kết cấu theo trật tự vấn đề giải pháp, Kết cấu theo trật tự chuỗi tác động, Kết cấu trật tự theo chủ đề.
(3) Phần kết luận của bài tuyên truyền miệng là phần không thể thiếu trong cấu trúc một bài nói, góp phần làm cho bố cục bài nói trở nên cân đối, lôgic, có tác dụng khái quát và nhấn mạnh điều đã nói.
Phần kết luận có các chức năng đặc trưng sau: Tổng kết những nội dung chính của bài tuyên truyền miệng; Củng cố và làm tăng ấn tượng về nội dung tuyên truyền; Đặt ra những nhiệm vụ nhất định và kêu gọi người nghe đi đến hành động. Kết luận phải giàu cảm xúc, ngắn gọn – chiếm khoảng 15% dung lượng toàn bài.
Phần kết luận được cấu trúc bởi hai phần: tóm tắt và kêu gọi hành động/định hướng nhận thức.
Mở bài và kết luận cho bài tuyên truyền miệng là một công việc khó khăn, đòi hỏi báo cáo viên phải đầu tư công phu. Chúng hấp dẫn, lôi cuốn, gây ấn tượng đối với người nghe sẽ giúp họ ghi nhớ nội dung bài nói tốt hơn, làm cơ sở cho việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách sau buổi tuyên truyền
Về lựa chọn ngôn ngữ, văn phong cho bài tuyên truyền miệng
Bài tuyên truyền miệng miệng sử dụng lời nói trực tiếp nhưng xét trên phương diện phong cách chức năng thì nó thuộc phong cách chính luận nên phải đảm bảo một số đặc điểm về mặt ngôn ngữ của thể loại như sau: tính chuẩn xác, tính thuật ngữ, tính bình giá công khai, tính phổ thông, tính biểu cảm.
Ngôn ngữ có nhiều cách phân chia, nếu căn cứ vào phương tiện tác động, có thể chia ngôn ngữ thành 3 nhóm: ngôn từ, cận ngôn ngữ và ngoại ngôn ngữ. Ngôn từ là tất cả các đơn vị của 1 thứ tiếng nào đó cùng với các quy tắc cấu tạo từ đơn vị nhỏ đến đơn vị lớn hơn như: từ, cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản. Cận ngôn ngữ là những yếu tố luôn đi cùng với ngôn từ như: cao độ, trường độ, tốc độ, trọng âm, sự ngừng giọng. Ngoại ngôn ngữ là thông điệp không được mã hoá bằng ngôn từ; bao gồm ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ vật thể và ngôn ngữ môi trường. Ngôn ngữ cơ thể gồm: ánh mắt, nét mặt, nụ cười, cử chỉ đôi tay, điệu bộ; Ngôn ngữ vật thể gồm: quần áo, phụ kiện (túi xách, bút, kính, dàn ý bài nói, bìa kẹp dàn ý, máy tính, bút lật trang, đồng hồ đeo tay, nhẫn, vòng, dây chuyền, giày, kẹp tóc, ...; Ngôn ngữ môi trường gồm: vị trí đứng, khoảng cách giao tiếp, địa điểm phát biểu, ...
Báo cáo viên phải biết lựa chọn các phương tiện trên sao cho phù hợp nhất với nội dung, bối cảnh phát phát biểu nhằm đạt hiệu quả tối ưu cho buổi tuyên truyền miệng.
Trên đây là 5 thao tác phải làm khi xây dựng đề cương bài tuyên truyền miệng nói chung. Bên cạnh các thao tác chuẩn bị nội dung, báo cáo viên phải thuần thục các nhóm thao tác chuẩn bị ngoài nội dung như: chuẩn bị cho diện mạo, sức khoẻ, thời gian, địa điểm, tâm lý, phương án dự phòng, …
Về chuẩn bị diện mạo: Chọn trang phục lịch sự, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, thời tiết, với vóc dáng và với địa điểm nơi đứng nói. Báo cáo viên nữ không nên đi giày có gót quá cao, khoảng 5 – 7 cm là hợp lý. Báo cáo viên nữ nên trang điểm đậm hơn so với giao tiếp bình thường, không nên đeo quá nhiều phụ kiện làm phân tán sự chú ý của người nghe.
Về chuẩn bị thời gian và địa điểm: Thời gian tổ chức buổi tuyên truyền miệng tốt nhất là vào buổi sáng hoặc buổi chiều, không nên nói vào buổi trưa. Buổi sáng người nghe thường tỉnh táo nên có thể dùng mở bài trực tiếp theo lối độc thoại. Buổi chiều nên mở bài gián tiếp theo lối đối thoại vì người nghe thường chưa tỉnh táo sau bữa trưa, giấc ngủ ngắn. Thời gian diễn ra buổi nói chuyện ảnh hưởng đến cách thức tác động lên đối tượng nên báo cáo viên cần biết trước để lên kịch bản tiến hành.
Địa điểm hợp lý có đóng góp đáng kể cho chất lượng buổi tuyên truyền miệng. Kích thước hội trường nên phù hợp với số lượng người nghe. Nếu người nghe ít, hội trường rộng nên mời họ ngồi ở những hàng ghế đầu. Nên bố trí người nghe đến trước ngồi cách xa cửa ra vào sao cho người đến sau không làm họ bị phân tán sự chú ý. Hội trường cần đủ ánh sáng, khuôn mặt của báo cáo viên phải được chiếu sáng vừa đủ. Không nên tổ chức buổi nói chuyện trong các phòng chật chội, nóng bức, nơi có nhiều tiếng động, ồn ào... Các nghiên cứu về môi trường truyền thông cho thấy: “nếu nhiệt độ không khí nóng quá 300c, hoặc tiếng ồn cao hơn 60 đề - xi - ben thì môi trường truyền thông sẽ tạo nhiễu, ảnh hưởng tới sự tiếp thu thông tin. Trong hội trường không nên trang trí quá nhiều tranh ảnh dễ chi phối sự chú ý của người nghe.
Về chuẩn bị về thể chất và tinh thần, sức khỏe và tâm lý: Cần có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý, không ăn món ăn lạ, không uống rượu bia trước khi đi phát biểu. Hầu hết các báo cáo viên đều tỏ ra lo lắng trước khi thực hiện nhiệm vụ. Đây là trạng thái tâm lý bình thường. Cần chuẩn bị kỹ mọi công đoạn, tư duy tích cực để tâm lý ổn định hơn. Cần áp dụng kỹ năng định vị giao tiếp để thấy rõ vai trò của mình mà vững tâm hơn.
Về chuẩn bị phương tiện, thiết bị trình bày bài nói. Kiểm tra lại xem dàn ý đã được in ra chưa, kích cỡ phù hợp chưa. Máy tính, bút lật trang sạc đủ điện chưa, kính mắt có dùng đến không, các giáo cụ trực quan khác đã đầy đủ chưa, … Một loạt các câu hỏi cần được đặt ra và trả lời.
Bên cạnh đó, cần chuẩn bị phương án ứng phó với những tình huống phát sinh như: mất điện, không mang theo đề cương, máy tính không kết nối được, có kết nối nhưng không hiển thị lên màn hình, người nghe đến muộn, người nghe đến ít hơn/ nhiều hơn so với số lượng đã triệu tập, người nghe liên tục đặt ra những câu hỏi chất vấn, sơ hở trong trang phục, …
Trên đây là những thao tác của kỹ năng chuẩn bị cho hoạt động tuyên truyền miệng, yếu tố dẫn đến thành công của báo cáo viên khi thực hiện công tác tuyên truyền miệng. Những công việc ngoài nội dung cần phải chuẩn bị như trình bày ở trên cùng với dàn ý được soạn công phu sẽ giúp báo cáo viên tự tin khi thực hiện nhiệm vụ trên thực địa. Các kỹ năng chuẩn bị nội dung là điều kiện cần, các kỹ năng chuẩn bị ngoài nội dung (chuẩn bị trước khi xuất hiện trước người nghe) là điều kiện đủ cho sự xuất hiện hoàn hảo của báo cáo viên
11 dấu hiệu chứng tỏ trang web không đáng tin cậy
Với nguồn tài nguyên khổng lồ, mạng internet bao gồm cả hàng nghìn trang web không đáng tin cậy (hay thậm chí là nhiều hơn). Trừ khi bạn luôn đề cao cảnh giác trước những dấu hiệu, việc phát hiện những trang web giả mạo và lừa đảo có thể khá khó khăn.
Vì vậy, bài viết này sẽ chỉ ra 11 dấu hiệu cho biết một trang web có thể không đáng tin cậy. Mặc dù chỉ một dấu hiệu chưa thể khẳng định được trang web có an toàn hay không, nhưng nếu bạn nhận ra bất kỳ dấu hiệu nào bên dưới thì tốt nhất hãy nên cảnh giác khi truy cập.
- Tên miền

Để giả mạo một trang web, đối tượng lừa đảo thường chọn những tên miền tương tự với tên miền thật của trang web. Và cách này rất hiệu quả vì đa số người dùng không chú ý đến tên miền trang web họ truy cập. Đối tượng lừa đảo có thể sử dụng một số cách thức dưới đây để khiến người dùng nhầm lẫn giữa tên miền giả và tên miền thật:
- Lỗi chính tả: Thông thường tên miền thật đã được đăng ký với tên nhãn hiệu, do vậy các trang giả mạo thường sử dụng tên miền với tên nhãn hiệu bị sai chính tả. Ví dụ như thêm chữ cái, dấu chấm câu và thay thế những ký tự giống nhau (như chữ o và số 0). Ngoài ra, đối tượng lừa đảo có thể thêm những tiền tố bên trước tên nhãn hiệu để tăng độ tin cậy.
- Thay thế đuôi tên miền khác: Đối tượng lừa đảo có thể sử dụng đuôi tên miền khác với trang web thật để đánh lừa người dùng. Ví dụ, nếu trang web thật có tên miền là “vnreview.vn”, trang web giả có thể sử dụng tên miền là “vnreview.net” hoặc “vnreview.org”. Tương tự, nếu bạn nhận thấy đuôi tên miền trang web mình truy cập có sự bất thường, hãy cảnh giác và tìm thêm những dấu hiệu lừa đảo khác.
- Tên miền phụ: Tên miền chính là phần tên miền liền trước đuôi tên miền. Vì vậy, nếu đối tượng lừa đảo muốn giả mạo trang web của VnReview, họ có thể sử dụng tên miền là “vnreview.abc.vn”. Trong trường hợp này, tên miền chính thức của trang web bạn truy cập là “abc.vn” và nó hoàn toàn không liên quan gì đến VnReview.
- Đường dẫn URL
Bên cạnh tên miền, bạn hãy chú ý đến đường dẫn URL của trang web bạn truy cập, điều này có thể giúp bạn phát hiện một trang web không đáng tin cậy. Thông thường, URL của một trang giả mạo có chứa nhiều ký tự số, ký tự đặc biệt và chữ cái ngẫu nhiên. Ví dự như “example.com/k4-5j-9nw3”.
Bạn cần chú ý rằng những đường dẫn rút gọn thường chứa một dãy chữ cái ngẫu nhiên, khi nhấp vào đường dẫn bạn sẽ được chuyển hướng đến đường dẫn URL của tên miền chính. Tuy nhiên, nếu thanh địa chỉ vẫn hiển thị một đường dẫn URL dài loằng ngoằng sau khi đã truy cập vào trang web thì tốt nhất hãy cảnh giác.
- Chứng chỉ SSL
Nói một cách dễ hiểu thì chứng chỉ SSL thể hiện dữ liệu được truyền giữa bạn và máy chủ đã được mã hoá. Chứng chỉ này nhằm đảm bảo tin tặc hay thậm chí là quản trị viên của trang web bạn truy cập không thể xem hoặc thay đổi dữ liệu trao đổi giữa người dùng và máy chủ.
Đa số tất cả các loại trang web đều có chứng chỉ SSL. Nhưng bạn luôn luôn nên kiểm tra chứng chỉ SSL của những trang web yêu cầu nhập thông tin thẻ tín dụng hoặc các loại thông tin cá nhân khác.
Nếu truy cập vào một trang web không được cấp chứng chỉ SSL, bạn sẽ thấy thông báo “Not Secure” (không an toàn) nằm bên trái thanh địa chỉ. Nếu xuất hiện biểu tượng ổ khoá đang khoá, có nghĩa là kết nối đến trang web đã được mã hoá.
- Không có thông tin liên hệ hay đơn vị quản lý trang web

Mọi trang web uy tín đều có đăng tải công khai thông tin liên hệ. Nếu bạn nhận thấy trang mình truy cập không có mục này, đây là dấu hiệu bạn cần phải cảnh giác.
Lý tưởng nhất là thông tin liên hệ phải bao gồm địa chỉ trụ sở, số điện thoại hoặc địa chỉ email. Phiếu điền thông tin người dùng để yêu cầu liên hệ hoàn toàn không đủ tin cậy, nhất là đối với những trang thương mại điện tử.
Tương tự, các trang web cung cấp nội dung và trang blog nên có thông tin liên lạc của tác giả. Dù những thông tin này hoàn toàn có thể làm giả nhưng thường thì các đối tượng lừa đảo chẳng bao giờ màng đến việc thêm mục này vào trang web giả mạo của chúng.
- Quảng cáo vô tội vạ
Mặc dù quảng cáo có thể khiến người dùng cảm thấy khó chịu, nhưng đó lại là nguồn kinh phí giúp đơn vị vận hành duy trì trang web. Dù vậy, nếu bạn truy cập vào một trang web chứa quá nhiều quảng cáo rác hoặc thường xuyên chuyển hướng đến các trang khác, bạn cần phải cẩn trọng.
Hầu hết những quảng cáo dạng này chứa tiêu đề giật gân, gây sốc để lừa người dùng nhấn vào. Mặc dù chúng có thể thu hút sự chú ý của người dùng nhưng đây lại là một dấu hiệu của một trang web không đáng tin cậy.
- Không có mục Chính sách quyền riêng tư hay Điều khoản sử dụng
Chính sách quyền riêng tư (Privacy Policy), Điều khoản sử dụng (Terms of use) và bản quyền (Copyright) là những phần bắt buộc phải có đối với những trang web uy tín. Hầu hết những trang web lừa đảo và giả mạo không có những phần này. Thậm chí nếu được cung cấp, nội dung thường không hoàn chỉnh, sao chép lại hoặc có nhiều lỗi.
Vì vậy, khi bạn nghi ngờ một trang web nào đó, hãy dành một ít thời gian tìm phần Chính sách quyền riêng tư và Điều khoản sử dụng của trang web. Bạn không cần đọc hết (vì chẳng ai lại đi đọc những thứ này), nhưng bạn cần đảm bảo là trang web mình truy cập có những nội dung đó. Với những trang web bán hàng, bạn có thể tìm kiếm thêm chính sách vận chuyển và chính sách đổi trả hàng.
- Chứa nhiều đường dẫn ẩn và nút tải về
Nếu một trang web có chứa đường dẫn ẩn đưa người dùng đến các trang lừa đảo hoặc trang có chứa mã độc, rõ ràng là bạn không nên tin tưởng và nhấn vào đường dẫn. Tương tự, đối tượng lừa đảo thường sử dụng những quảng cáo có chửa nút Tải về (Download) giả để lừa người dùng nhấn vào đó.
Thậm chí, ngay cả khi những nút tải về đó có hoạt động thì bạn cũng nên cẩn trọng khi tải về bất kỳ thứ gì từ những trang web không đáng tin cậy.
Để kiểm tra đường dẫn, bạn có thể đưa trỏ chuột đến đường dẫn rút gọn và xem trang web đích ở góc dưới bên trái màn hình. Hoặc bạn có thể nhấn chuột phải vào sao chép đường dẫn trên thanh địa chỉ.
- Lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp
Lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp là một dấu hiệu rõ ràng nhất. Hầu hết các nội dung trên trang lừa đảo thường được sao chép lại hoặc được biên soạn một cách cẩu thả.
Vì vậy, hay thử đọc qua một số trang nội dung có trên trang web. Nếu bạn nhận thấy lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp thường xuyên xuất hiện thì khả năng cao đó là một trang web không đáng tin cậy.
- Con dấu tin cậy
Con dấu tin cậy (Trusted Seal) thể hiện độ bảo mật và độ xác thực của một trang web. Có nhiều loại con dấu khác nhau, như dấu chỉ bảo mật, phương thức thanh toán và trang thanh toán an toàn.
Những con dấu này được cấp bởi nhiều tổ chức khác nhau, trong đó phổ biến nhất là Norton, Google Trusted Store, TrustedSite và PayPal.
Tuy nhiên, những con dấu này hoàn toàn có thể làm giả, vì vậy bạn nên kiểm tra cả chúng. Nhấp chuột vào con dấu, thông tin về nhà cung cấp và tên miền trang web được công nhận sẽ được thể hiện đầy đủ.
Những con dấu tin cậy thường được sử dụng trên trang web của cửa hàng trực tuyến hoặc sàn thương mại điện tử yêu cầu người dùng phải đăng ký tài khoản. Và thường được thể hiện ở cuối trang web, trang đăng ký, hoặc trang thanh toán. Với những dạng trang web khác, có thể bạn sẽ không thấy những con dấu này, điều này hoàn toàn không có vấn đề gì.
- Thử tìm kiếm trên Google
Bạn có thể tìm tên trang web bạn muốn kiểm tra trên Google. Những trang giả mạo sẽ không xuất hiện trong kết quả tìm kiếm, hay ít nhất là nó nằm bên dưới kết quả của trang web thật.
Tương tự, những trang lừa đảo thường ít khi xuất hiện trong kết quả tìm kiếm. Một dấu hiệu khác của trang web đáng tin cậy là được những trang web khác đề cập và để đường dẫn đến chúng.
- Sử dụng Google Safe Browsing Transparency Report

Cuối cùng, bạn có thể sử dụng Google Safe Browsing Transparency Report để kiểm tra một trang web hay đường dẫn bất kỳ có tin cậy hay không. Google quét hàng tỉ trang web mỗi ngày để phát hiện những trang không an toàn và có thể gây hại cho người dùng.
Để kiểm tra, bạn có thể dán đường dẫn vào công cụ Google Safe Browsing Transparency Report và nhấn Enter. Công cụ sẽ trả về kết quả trang web này có an toàn hay không.
Hãy cảnh giác khi lướt web
Bạn không nên tin tưởng mọi thứ trên internet. Đặc biệt là trên những trang lần đầu tiên bạn truy cập, hãy luôn cẩn trọng và nhận diện những dấu hiệu đáng ngờ được liệt kê bên trên.
Ngoài ra, bạn cũng có thể dễ dàng phát hiện trang web đáng ngờ thông sự nhạy bén của bạn thân. Ví dụ như những trang web có thiết kế sơ sài, ít nội dung, lỗi font chữ, chứa nhiều tiêu đề giật tít hoặc gây sốc, hầu hết đều là trang lừa đảo.
Bên cạnh trang web, đối tượng lừa đảo còn có thể làm giả cả danh tính, bình luận, địa chỉ email và hình ảnh. Vì vậy, hãy luôn cảnh giác khi sử dụng internet.
Cách xây dựng 01 kịch bản chương trình khi tổ chức 01 hoạt động
- Xác định mục đích, yêu cầu
- Mục đích của hoạt động là gì? (tuyên truyền, giáo dục, giải trí, gắn kết đoàn viên, chào mừng ngày lễ lớn…).
- Yêu cầu cần đạt: trang trọng, tiết kiệm, an toàn, thu hút đông đảo đoàn viên, tạo hiệu ứng truyền thông.
- Xác định đối tượng, quy mô, thời gian, địa điểm
- Đối tượng: đoàn viên, NLĐ, lãnh đạo đơn vị, khách mời.
- Quy mô: tổ, bộ phận hay công ty …
- Thời gian, địa điểm: lựa chọn phù hợp, thuận lợi cho đa số đoàn viên.
- Xây dựng bố cục chương trình (kịch bản tổng quát)
3.1. Phần ổn định, khai mạc
- Ổn định tổ chức (văn nghệ chào mừng, tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu).
- Diễn văn khai mạc, phát biểu của lãnh đạo công đoàn/đơn vị.
3.2. Phần nội dung chính
- Tổ chức hoạt động trọng tâm (thi đua, hội thi, giao lưu, tọa đàm, trao thưởng…).
- Các tiết mục xen kẽ để tạo không khí (văn nghệ, trò chơi, clip tư liệu…).
3.3. Phần bế mạc
- Tổng kết, nhận xét, công bố kết quả/trao giải (nếu có).
- Phát biểu bế mạc, cảm ơn.
- Soạn kịch bản chi tiết
- Ghi rõ thời gian cho từng phần (phút).
- Người đảm nhiệm: MC, người phát biểu, ban tổ chức, kỹ thuật, hậu cần.
- Nội dung lời dẫn (cần ghi chi tiết, chuẩn bị trước để MC bám sát).
- Dự kiến tình huống phát sinh (trễ giờ, khách mời chưa đến, sự cố kỹ thuật) và phương án xử lý.
- Công tác chuẩn bị
- Phân công nhân sự: MC, dẫn chương trình, kỹ thuật âm thanh ánh sáng, lễ tân, trang trí.
- Dự trù kinh phí, phương tiện, tài liệu, quà tặng.
- Kiểm tra, chạy thử để tránh sai sót.
Kỹ năng lựa chọn nội dung tuyên truyền miệng
Về nguyên tắc, tuyên truyền miệng có thể đề cập đến mọi vấn đề của đời sống xã hội, như: Những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, an ninh - quốc phòng, đối ngoại; những vấn đề lý luận, quan điểm, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước; các sự kiện đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội...
Tuy nhiên, để đạt mục đích tuyên truyền đặt ra, tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, khi lựa chọn nội dung tuyên truyền miệng, cần chú ý đến các yêu cầu sau:
KỸ NĂNG LỰA CHỌN NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN MIỆNG
Về nguyên tắc, tuyên truyền miệng có thể đề cập đến mọi vấn đề của đời sống xã hội, như: Những vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học - kỹ thuật, an ninh - quốc phòng, đối ngoại; những vấn đề lý luận, quan điểm, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước; các sự kiện đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội... Tuy nhiên, để đạt mục đích tuyên truyền đặt ra, tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, khi lựa chọn nội dung tuyên truyền miệng, cần chú ý đến các yêu cầu sau:
- Nội dung tuyên truyền miệng phải mang đến cho người nghe những thông tin mới
Trong lý thuyết giao tiếp, người ta ví quá trình trao đổi thông tin với hình tượng hai bình thông nhau chứa tin. Mỗi một bình chứa tin là một vai giao tiếp. Quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin là quá trình mở chiếc van giữa hai bình để tin từ bình này (người nói) chảy sang bình kia (người nghe). Nếu tin của hai bình ngang nhau tức là hết điều để nói, quá trình trao đổi thông tin trên thực tế không diễn ra nữa. Để quá trình giao tiếp, trao đổi thông tin diễn ra liên tục, giữa người nói và người nghe phải có độ chênh lệch về thông tin, về sự hiểu biết xung quanh nội dung đang đề cập đến. Độ chênh lệch về thông tin, về sự hiểu biết đó chính là cái mới của nội dung tuyên truyền miệng.
Cái mới của nội dung tuyên truyền tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, thuyết phục, cảm hoá họ, khẳng định những quan điểm cần tuyên truyền và phê phán các quan điểm sai trái, phản diện.
Trong tuyên truyền miệng, cái mới không chỉ được hiểu là cái chưa hề được đối tượng biết đến mà có thể là một phương pháp tiếp cận mới, một cách trình bày mới, độc đáo, một nhận định đánh giá mới về cái đã biết. Để tạo ra cái mới cho nội dung tuyên truyền miệng, báo cáo viên, tuyên truyền viên cần thường xuyên tích luỹ tư liệu mới; tìm tòi, sáng tạo cách trình bày, tiếp cận mới đối với vấn đề; rèn luyện năng lực bình luận, đánh giá thông tin; tích cực nghiên cứu thực tế, lăn lộn trong phong trào cách mạng của quần chúng để phát hiện, nắm bắt cái mới, tổng kết các kinh nghiệm hay từ thực tiễn.
- Nội dung tuyên tuyền miệng phải thiết thực, đáp ứng nhu cầu của một nhóm đối tượng cụ thể
Nội dung tuyên truyền miệng do mục đích của công tác giáo dục chính trị - tư tưởng và nhu cầu thoả mãn thông tin của đối tượng quy định. Nhu cầu thông tin của đối tượng lại xuất hiện do nhu cầu của hoạt động nhận thức (nghe để biết), hoặc của hoạt động thực tiễn (nghe để biết và để làm). Chính trong quá trình hoạt động thực tiễn mà ở công chúng xuất hiện nhu cầu thông tin và đòi hỏi được đáp ứng.
Hoạt động thực tiễn của công chúng lại rất đa dạng, do đó nhu cầu thông tin của từng đối tượng công chúng cũng khác nhau. Không thể chọn một nội dung để nói cho các đối tượng khác nhau. Nội dung tuyên truyền miệng bao giờ cũng hướng tới một đối tượng, một nhóm người nghe cụ thể, xác định. Cho nên, phân loại đối tượng, nắm vững mục đích công tác giáo dục chính trị, tư tưởng và nhu cầu thông tin, sự hứng thú của từng đối tượng đối với nội dung thông tin, kích thích và đáp ứng nhu cầu ấy vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện đảm bảo cho sự thành công của công tác tuyên truyền miệng.
Trong trường hợp công chúng chưa xuất hiện nhu cầu thông tin về một vấn đề quan trọng nào đó, nhưng vấn đề đó lại được đặt ra do yêu cầu giáo dục chính trị, tư tưởng thì cần chủ động hướng dẫn, khêu gợi, kích thích sự quan tâm ở họ. Chỉ khi nào ở người nghe xuất hiện nhu cầu thông tin và đòi hỏi được đáp ứng thì khi đó ở họ mới xuất hiện tâm thế, thái độ chủ động sẵn sàng tiếp nhận, chủ động nhằm thoả mãn nhu cầu đó (tìm tài liệu để đọc, đến hội trường nghe nói chuyện và chú ý lắng nghe...).
- Nội dung tuyên truyền miệng phải mang tính thời sự, tính cấp thiết, phản ánh những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống
Giá trị và sức lôi cuốn người nghe, ý nghĩa giáo dục chính trị, tư tưởng và chỉ đạo hành động của nội dung tuyên truyền được nâng cao rõ rệt khi chọn đúng thời điểm tổ chức buổi tuyên truyền miệng. Nếu buổi tuyên truyền miệng được tổ chức đúng thời điểm thì sức thu hút của nó đối với người nghe càng lớn, vì đó là một điều kiện giúp con người hành động có hiệu quả. Nếu triển khai kế hoạch tuyên truyền chậm, thông tin thiếu tính thời sự thì hiệu quả tác động kém, sức hấp dẫn bị hạn chế.
Để đáp ứng yêu cầu này, một mặt cần nắm vững chương trình, kế hoạch tuyên truyền của cấp uỷ hoặc cấp trên đề ra; mặt khác, bằng sự nhạy cảm chính trị và tính năng động nghề nghiệp, báo cáo viên, tuyên truyền viên có thể chọn một trong số những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách nhất, những sự kiện có tiếng vang lớn, đang kích thích sự quan tâm của đông đảo quần chúng làm chủ đề cho nội dung tuyên truyền. Những vấn đề và sự kiện như vậy thường có sức mạnh thông tin, cổ vũ cao, tác động sâu sắc đến ý thức và hành vi của con người.
Hướng vào phản ánh những vấn đề bức xúc trong phong trào cách mạng của quần chúng, các điển hình tiên tiến trong thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát hiện, giải đáp kịp thời, có sức thuyết phục những vấn đề do thực tiễn cuộc sống sinh động đang đặt ra là một trong những cách thức nâng cao tính cấp thiết, tính thời sự của nội dung tuyên truyền miệng.
- Nội dung tuyên truyền miệng phải đảm bảo tính tư tưởng, tính chiến đấu và tính định hướng
Bài nói của báo cáo viên, tuyên truyền viên có mục đích tư tưởng rất rõ rệt. Mục đích tư tưởng này do chức năng của công tác tuyên truyền đặt ra và là đặc trưng cơ bản nhất trong hoạt động nghề nghiệp của báo cáo viên, tuyên truyền viên. Khi nói trước công chúng, báo cáo viên, tuyên truyền viên thực hiện chức năng của nhà tư tưởng bằng công cụ lời nói, bằng nghệ thuật sử dụng ngôn từ. Nội dung tuyên truyền miệng dù về đề tài gì, trước đối tượng công chúng nào cũng đặt ra không chỉ mục đích thông tin mà quan trọng hơn là mục đích tác động về mặt tư tưởng nhằm hình thành niềm tin và cổ vũ tính tích cực hành động của con người. Cho nên, nội dung tuyên truyền miệng không chỉ đạt tới yêu cầu cung cấp thông tin đa dạng, nhiều chiều, hấp dẫn, mà quan trọng hơn là đạt tới yêu cầu định hướng chính trị, cung cấp thông tin. Nội dung tuyên truyền miệng không chỉ nhằm cung cấp thông tin về các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về những sự kiện quan trọng trong nước và trên thế giới mà quan trọng hơn là qua thông tin đó định hướng nhận thức, giáo dục tư tưởng, quán triệt quan điểm và hướng dẫn hành động của quần chúng.
Tính tư tưởng, tính chiến đấu đòi hỏi báo cáo viên, tuyên truyền viên khi thông tin về những quan điểm khác nhau phải có chính kiến rõ ràng, phân tích theo lập trường, quan điểm của Đảng; khi nêu các hiện tượng tiêu cực, lạc hậu, các tư tưởng xa lạ, đối lập phải tỏ rõ thái độ phê phán kiên quyết, triệt để, tránh gây hoài nghi, hoang mang, làm giảm niềm tin của công chúng bởi cái gọi là “thông tin nhiều chiều” thiếu cơ sở khoa học.
Trong bối cảnh bùng nổ thông tin toàn cầu hiện nay, bên cạnh những thông tin đa dạng, đa chiều cung cấp qua các phương tiện truyền thông và mạng xã hội, còn có nhiều thông tin mà các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, biến chất tung ra nhằm đánh tráo khái niệm, bóp méo lịch sử, thao túng dư luận xã hội, bịa đặt, kích động gây chia rẽ nội bộ, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong xã hội ta. Các thông tin đúng - sai, thật - giả lẫn lộn cùng tác động đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong điều kiện đó, báo cáo viên, tuyên truyền viên thông qua hoạt động tuyên truyền miệng phải có trách nhiệm góp phần định hướng thông tin. Việc định hướng thông tin đòi hỏi báo cáo viên, tuyên truyền viên phải thông tin chính xác, kịp thời quan điểm chính thức, chính thống của Đảng và Nhà nước. Khi thông tin về sự kiện, hiện tượng, vấn đề phải phản ánh chân thực bản chất sự kiện, hiện tượng, vấn đề đó, giúp công chúng phân biệt rõ ràng đúng - sai, thật - giả, tích cực - tiêu cực. Đồng thời, báo cáo viên, tuyên truyền viên phải thể hiện, bày tỏ thái độ ủng hộ cái đúng, cái tích cực, tiến bộ; phê phán cái sai, cái tiêu cực, lạc hậu; kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai trái, các tin đồn thất thiệt.
Căn cứ vào kế hoạch, đề tài tuyên truyền của cấp ủy, những yêu cầu trên, thực tế tình hình tư tưởng xã hội, đặc điểm đối tượng, cán bộ làm công tác tuyên truyền miệng, báo cáo viên, tuyên truyền viên cần lựa chọn được nội dung tuyên truyền phù hợp.
Kỹ năng tuyên truyền miệng trong phổ biến, giáo dục pháp luật
- Gây thiện cảm ban đầu cho người nghe
Việc gây thiện cảm ban đầu cho người nghe rất quan trọng. Thiện cảm ban đầu thể hiện ở nhân thân, tâm thế và biểu hiện của người nói khi bước lên bục tuyên truyền. Danh tiếng, phẩm chất đạo đức, học hàm, học vị, chức vụ của người nói là nguồn thiện cảm ban đầu cho người nghe; kích thích người nghe háo hức chờ đón buổi tuyên truyền. Thiện cảm ban đầu tạo ra sự hứng thú, say mê của người nghe, củng cố được niềm tin về vấn đề đang tuyên truyền. Thiện cảm ban đầu còn được tạo ra bởi khung cảnh của hội trường, khung cảnh của diễn đàn, dáng vẻ bề ngoài, y phục, nét mặt, cử chỉ, phong thái, lời giao tiếp ban đầu. Như vậy, báo cáo viên cần phải tươi cười bao quát hội trường, có lời chào mừng, chúc tụng, có câu mở đầu dí dỏm, hài hước, công bố thời gian, chương trình làm việc rõ ràng, thoải mái... sẽ gây được thiện cảm ban đầu đối với người nghe. Thế nhưng, thiện cảm ban đầu chủ yếu là ở cách đặt vấn đề đầu tiên của người nói. Trong những phút đầu tiên của bài giới thiệu, người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm hiểu nhất. Ví dụ khi tuyên truyền cho đối tượng là công nhân về Bộ luật Lao động thì các vấn đề mà công nhân quan tâm nhất là hợp đồng lao động; bảo hộ lao động; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; tiền lương; bảo hiểm xã hội... Việc nêu các vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở khả năng thuyết trình của báo cáo viên. Báo cáo viên có thể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói đến nhiều thời gian qua hoặc có thể bắt đầu từ một bộ phim đã chiếu khá phổ biến hoặc cũng có thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền...
- Tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng trong khi nói
Nghệ thuật tuyên truyền là tạo nên sự hấp dẫn, gây ấn tượng bằng giọng nói, điệu bộ, ngôn ngữ. Giọng nói phải rõ ràng, mạch lạc nhưng truyền cảm. Hết sức tránh lối nói đều đều. Giọng nói, âm lượng phải thay đổi theo nội dung và nhấn mạnh vào những điểm quan trọng, cần phải chú ý. Động tác, cử chỉ cần phải phù hợp với nội dung và giọng nói để nâng cao hiệu quả tuyên truyền của lời nói. Sắc thái có tác dụng truyền cảm rất lớn. Vẻ mặt của người nói cần thay đổi theo diễn biến của nội dung. Khi nói, cần chú ý nhìn vào một nhóm người ngồi dưới, thỉnh thoảng người nói cần thay đổi vị trí nhìn để tạo sự chú ý của cử tọa. Người nói cần đưa ra số liệu, sự kiện để minh hoạ, đặt câu hỏi để tăng thêm sự chú ý của người nghe.
Người nói cũng cần phát huy vai trò thông tin, truyền cảm của ngôn ngữ bằng cách sử dụng chính xác, đúng mực thuật ngữ pháp lý, thuật ngữ chuyên ngành và ngôn ngữ phổ thông. Người nói có thể kết hợp, lồng ghép, sử dụng hợp lý, chính xác ý tứ, ngôn từ trong kinh điển, thơ văn, ca dao, dân ca vào buổi tuyên truyền pháp luật để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục đối với người nghe.
- Bảo đảm các nguyên tắc sư phạm trong tuyên truyền miệng
Người nói cần tôn trọng các nguyên tắc sư phạm. Từ bố cục bài nói, diễn đạt các đoạn văn, liên kết giữa các đoạn văn đến cách nói đều phải rõ ràng, mạch lạc, lôgic. Người nghe cần được dẫn dắt từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ gần đến xa (phương pháp suy diễn) hoặc từ xa đến gần (phương pháp quy nạp) và tuỳ từng vấn đề mà dùng lý luận soi sáng cho thực tiễn hoặc từ thực tiễn mà đi sâu vào lý luận. Mục đích cuối cùng vẫn là để người nghe hiểu rõ hơn, toàn diện hơn về những vấn đề mà người nói đã nêu ra. Tuy nhiên dù phân tích, diễn giải rộng hay hẹp đều phải luôn bám sát trọng tâm của vấn đề.
- Sử dụng phương pháp thuyết phục trong tuyên truyền miệng
Tuyên truyền miệng về pháp luật chủ yếu dùng phương pháp thuyết phục với ba bộ phận cấu thành là chứng minh, giải thích và phân tích.
- Chứng minh là cách thuyết phục chủ yếu dựa vào các dẫn chứng xác thực, khách quan để làm sáng tỏ và xác nhận tính đúng đắn của vấn đề. Các dẫn chứng đưa ra gồm số liệu, sự kiện, hiện tượng, nhân chứng, danh ngôn, kinh điển. Để có sức thuyết phục, các dẫn chứng được đưa ra phải chính xác, tiêu biểu, toàn diện và sát hợp với vấn đề nêu ra.
- Giải thích là việc dùng lý lẽ để giảng giải giúp người nghe hiểu rõ và hiểu đúng vấn đề. Lập luận trong khi giải thích phải chặt chẽ, chính xác, mạch lạc, khúc triết, không ngụy biện.
- Phân tích là diễn giải, đánh giá vấn đề nhằm tìm được đặc điểm, bản chất, điểm mạnh, điểm yếu, điểm tốt, điểm xấu, sự phù hợp, không phù hợp... của vấn đề. Việc phân tích phải dựa trên cơ sở khoa học, không được cường điệu mặt này hay hạ thấp mặt kia. Sau khi phân tích phải có kết luận, đánh giá, hướng người nghe vào định hướng tư duy đúng đắn, không làm cho người nghe hoài nghi, dao động, hoang mang.
- Các bước tiến hành một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật
Để có một buổi tuyên truyền miệng pháp luật cần qua 2 bước:
5.1. Bước chuẩn bị: gồm 5 nội dung chính sau đây :
- Nắm vững đối tượng truyên truyền: Báo cáo viên cần nắm vững đối tượng tuyên truyền qua các yếu tố về số lượng; thành phần (trí thức, công nhân, nông dân, học sinh, thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, phụ lão...); trình độ văn hoá; tình hình thực hiện pháp luật ở cơ sở; ý thức thực hiện pháp luật và nhu cầu tìm hiểu pháp luật của đối tượng.
Báo cáo viên có thể nắm vững đối tượng bằng phương pháp trực tiếp (tự điều tra, tìm hiểu, gặp gỡ, quan sát...) hoặc bằng phương pháp gián tiếp (qua tài liệu, sách báo, báo cáo tổng kết, trao đổi với người tổ chức buổi tuyên truyền...). Cần có thông tin đầy đủ từ phía cơ quan tổ chức tuyên truyền về thành phần dự. Chú ý những thay đổi có thể diễn ra về thành phần người nghe.
- Nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh: Đó là các vấn đề về kỹ thuật nghiệp vụ chuyên ngành, đường lối của Đảng, pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực đó, các tài liệu lý luận, giáo khoa, các tài liệu của nước ngoài trong lĩnh vực đó. Để nắm vững vấn đề liên quan đến lĩnh vực mà văn bản điều chỉnh đòi hỏi báo cáo viên ngoài trình độ chuyên môn tốt cần phải có quá trình tích lũy, sưu tầm với một ý thức trách nhiệm và lòng say mê với nghề nghiệp.
- Nắm vững nội dung văn bản, cụ thể là hiểu rõ bản chất pháp lý của vấn đề được văn bản điều chỉnh, sự cần thiết phải ban hành văn bản; hiểu rõ đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh của văn bản; hiểu rõ ý nghĩa của các quy phạm, đặc biệt là ý nghĩa về mặt quản lý Nhà nước, về tác dụng điều chỉnh của từng quy phạm cụ thể; nghiên cứu các văn bản hướng dẫn thi hành, tài liệu hướng dẫn tuyên truyền và hệ thống văn bản điều chỉnh lĩnh vực đó.
Muốn vậy, người nói cần nắm được thông tin liên quan đến văn bản từ giai đoạn soạn thảo, lấy ý kiến đến khi ban hành (tờ trình về dự án Luật, các báo cáo tổng hợp ý kiến tham gia xây dựng Luật...). Như vậy, người nói phải nắm được một cách toàn diện không những nội dung văn bản mà còn cả những vấn đề có liên quan đến việc ra đời và triển khai văn bản đó, cụ thể cần nắm vững tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của việc ban hành các văn bản đó thông qua các nghị quyết của Đảng, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội hoặc trực tiếp hơn là qua tờ trình về việc ban hành văn bản, qua các bài báo, bình luận khoa học về văn bản. Ngoài ra, trong quá trình tuyên truyền, người nói cũng cần giới thiệu có chọn lọc ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động thực tiễn liên quan đến văn bản đó.
- Sưu tầm tài liệu dẫn chứng, minh họa: Đây là nội dung rất quan trọng vì nó ảnh hưởng đến chất lượng, độ sâu và sức thuyết phục của buổi tuyên truyền. Tài liệu, dẫn chứng minh họa có tính chính thức, độ tin cậy cao, có thể được sưu tầm trên Báo Nhân dân, Đài Truyền hình Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam... hoặc các tạp chí chuyên ngành; các công trình khoa học đã được công bố; bài viết trên các báo, đặc san khoa học; số liệu, dẫn chứng trên các trang thông tin điện tử (trang Web) cần được lựa chọn phù hợp. Khi sưu tầm tài liệu, báo cáo viên cần chú ý đến tính chất, yêu cầu của tài liệu đó, tuyệt đối tránh tài liệu, dẫn chứng minh họa thuộc diện mật của Đảng và Nhà nước; số liệu, dẫn chứng đã cũ không còn phù hợp với hiện tại.
- Chuẩn bị đề cương: Đề cương tuyên truyền miệng (bao gồm đề cương sơ bộ và đề cương chi tiết) cần đầy đủ về nội dung, thích hợp với đối tượng, chặt chẽ về bố cục, sắc sảo về lập luận. Khi chuẩn bị đề cương cần chú ý những yêu cầu sau:
+ Đề cương không phải là một bài viết hoàn chỉnh, cụ thể mà là tài liệu nêu lên các trọng tâm cần tập trung tuyên truyền, phổ biến. Trên cơ sở đó, báo cáo viên phân tích cụ thể, mở rộng những vấn đề nêu trong đề cương. Đề cương tuyên truyền có nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức triển khai tuyên truyền văn bản pháp luật cho phù hợp với từng loại đối tượng, trên từng địa bàn.
+ Cần lựa chọn vấn đề cốt lõi của văn bản có liên hệ với hệ thống pháp luật để làm rõ mối quan hệ của văn bản với hệ thống pháp luật.
+ Để thu hút người nghe và tạo điều kiện cho người nghe hiểu văn bản có tính hệ thống, toàn bộ các phần trong đề cương phải có mối quan hệ hữu cơ với nhau như một câu chuyện là: yêu cầu, nhiệm vụ của văn bản; cơ chế quản lý như thế nào; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể ra sao; chế tài áp dụng đối với người vi phạm thế nào... để sao cho đạt được yêu cầu, nhiệm vụ cần tuyên truyền.
5.2. Tiến hành một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật
Một buổi tuyên truyền miệng về pháp luật thường có các phần sau:
- Vào đề: Là phần giới thiệu vấn đề, định hướng tư duy, khơi gợi nhu cầu của đối tượng, thiết lập quan hệ giữa người nói với người nghe. Với tuyên truyền miệng về pháp luật, cách vào đề có hiệu quả thường là gợi ra nhu cầu tìm hiểu ý nghĩa, sự cần thiết phải ban hành văn bản pháp luật.
Trước khi bắt đầu phần này, báo cáo viên cần có những lời chào mừng, chúc tụng đối với người nghe để gây thiện cảm và không khí gần gũi. Trong phần vào đề, người nói phải nêu được khoảng từ 3, 4 vấn đề chủ yếu mà người nghe cần tìm hiểu nhất để tạo sự chú ý, sức hấp dẫn cho người nghe (như đã trình bày ở điểm 3.1). Việc nêu các vấn đề đó còn tuỳ thuộc ở khả năng diễn thuyết của báo cáo viên. Báo cáo viên có thể bắt đầu từ một câu chuyện pháp luật được các phương tiện thông tin đại chúng nói đến nhiều thời gian qua; có thể bằng các tình huống xảy ra gần địa bàn nơi tổ chức tuyên truyền hoặc một câu chuyện có liên quan mà tình cờ báo cáo viên biết được qua trao đổi trước buổi tuyên truyền với một số người nghe...
- Nội dung: Là phần chủ yếu của buổi nói, làm cho đối tượng hiểu, nắm được nội dung, chuyển biến nhận thức, nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng. Cần lưu ý là phải nêu được những điểm mới, thời sự để người nghe chú ý; khi tuyên truyền không được sao chép, đọc nguyên văn văn bản để tránh sự nhàm chán. Khi giảng cần phân tích, giải thích và nêu ý nghĩa của văn bản pháp luật đó. Viết, đọc một đoạn nào đó trong văn bản chỉ có tính chất dẫn chứng, minh họa những gì mà người nói đã phân tích, dẫn chứng ở trước.
Trong tuyên truyền văn bản phải chú ý tới hai điều, đó là: lựa chọn cách trình bày phù hợp với đối tượng và nêu được vấn đề cơ bản, cốt lõi, trọng tâm để người nghe thâu tóm được tinh thần văn bản. Sử dụng hợp lý kênh ngôn ngữ (nói) và kênh phi ngôn ngữ (cử chỉ, động tác).
Đối tượng tuyên truyền miệng rất phong phú nhưng có thể chia thành 4 loại: Cán bộ quản lý; cán bộ nghiên cứu, xây dựng văn bản; cán bộ tuyên truyền; những người phải chấp hành pháp luật (cán bộ, nhân dân). Trên cơ sở sự phân loại đó, báo cáo viên có thể xác định được mục đích, yêu cầu, nội dung trọng tâm, phương pháp trình bày cho phù hợp với từng đối tượng, cụ thể là:
+ Với cán bộ quản lý: Báo cáo viên cần xác định người nghe là cán bộ quản lý ở cấp nào để có thể có phương pháp trình bày thiên về khái quát hoặc diễn giải; thiên về lý luận hoặc thực tiễn. Đối với người nghe là cán bộ quản lý cấp tỉnh thì người nói có thể trình bày vấn đề thiên về khái quát có kết hợp phân tích, diễn giải; nhưng nếu người nghe là cán bộ cấp xã thì người nói cần phải sử dụng phương pháp suy diễn, phân tích cụ thể về thực tiễn rồi sau đó khái quát thành những đánh giá, lý luận. Người nói cần làm rõ những quy định về quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, cán bộ nhà nước; nội dung quản lý nhà nước; các hình thức vi phạm và mức độ xử lý; thẩm quyền xử lý; tổ chức thi hành văn bản...
+ Với cán bộ nghiên cứu, xây dựng văn bản: Phương pháp khái quát thường đạt hiệu quả tuyên truyền cao vì đối tượng này có trình độ, thường quan tâm đến những quan điểm, những vấn đề lý luận chứa đựng trong văn bản. Ngoài ra báo cáo viên cần làm rõ: văn bản đã đáp ứng được những nhu cầu, đòi hỏi thực tiễn nào, những gì còn hạn chế, chưa đáp ứng được; những gì đã thống nhất, những gì tồn tại; các ý kiến khác nhau về những nội dung của văn bản trước khi được ban hành; các văn bản được ban hành tiếp theo và văn bản để cụ thể hóa văn bản này; vị trí của văn bản này trong hệ thống các văn bản thuộc lĩnh vực văn bản điều chỉnh...
+ Với cán bộ tuyên truyền (bao gồm: báo cáo viên, tuyên truyền viên, phóng viên, biên tập viên các báo, đài): Có thể dùng phương pháp khái quát hoặc diễn giải tuỳ thuộc vào hình thức văn bản nhưng cần tập trung nhấn mạnh những nội dung để phục vụ cho công tác tuyên truyền của cán bộ tuyên truyền như: bản chất, ý nghĩa pháp lý của vấn đề; sự cần thiết, mục đích của việc ban hành văn bản; những số liệu, tài liệu cần viện dẫn, đối chiếu, so sánh; các vấn đề chủ yếu cần tập trung phổ biến, tuyên truyền.
+ Với những người phải chấp hành pháp luật: Sử dụng phương pháp diễn giải là phù hợp. Cần nêu bản chất, ý nghĩa của vấn đề, mục đích, sự cần thiết phải ban hành văn bản, ý nghĩa của các quy phạm liên quan đến từng đối tượng thi hành trong văn bản. Báo cáo viên cần tập trung phân tích quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ xã hội được văn bản điều chỉnh, cơ chế thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện, thời hiệu khiếu nại, khởi kiện...
* Trong thực tiễn tuyên truyền miệng pháp luật, vì nhiều lý do, có thể xảy ra những “trục trặc” ngoài ý muốn khi đang thực hiện buổi tuyên truyền miệng pháp luật. Những “trục trặc” thường gặp trong thực tế là:
- Nói lắp, nói nhịu: Đôi khi trong khi đang nói vì căng thẳng hay mệt mỏi báo cáo viên nói lắp, nói nhịu. Đây là hiện tượng vô thức xảy ra ngoài ý muốn của con người. Khi xảy ra hiện tượng này, thường sẽ gây nên tiếng cười, ồn ào trong người nghe. Để khắc phục hiện tượng này, báo cáo viên cần phải bình tĩnh, không được mất tinh thần; lấy lại sự tập trung vào bài giảng. Báo cáo viên có thể kể một câu chuyện vui hoặc có những câu nói hài hước để tạo nên không khí thoải mái, vui vẻ trong buổi tuyên truyền, sau đó khéo léo dẫn dắt vào bài giảng.
- Lạc đề: Hiện tượng này xảy ra do báo cáo viên phân tích, diễn giải vấn đề quá rộng dẫn đến những nội dung báo cáo viên nói không có liên quan hoặc ít liên quan đến bài giảng. Trong trường hợp này, báo cáo viên không được mất bình tĩnh; sử dụng phương pháp quy nạp, từ những vấn đề đã phân tích, diễn giải rộng ở trên, báo cáo viên khéo léo dẫn dắt người nghe đến những nội dung chính của bài giảng. Để kiểm soát được bài giảng của mình đúng trọng tâm, không lạc đề đòi hỏi báo cáo viên phải chuẩn bị kỹ nội dung bài giảng, trong khi giảng bài cần tập trung, luôn quan tâm theo dõi đến thái độ (phản ứng) của người nghe để điều chỉnh bài giảng hợp lý.
- Thừa giờ hoặc thiếu giờ: Tình huống này thường xảy ra đối với những báo cáo viên còn thiếu kinh nghiệm trong nghề. Đây là trường hợp thời gian dự kiến ban đầu của buổi tuyên truyền miệng vẫn còn nhưng báo cáo viên đã truyền đạt hết các nội dung văn bản pháp luật hoặc đã hết giờ mà chưa truyền đạt hết nội dung. Nếu gặp phải trường hợp này, tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể mà báo cáo viên cần phải nhanh nhạy chuyển sang hình thức khác có liên quan đến bài giảng như tổ chức thảo luận về những nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo viên sẽ trực tiếp giải đáp những thắc mắc của người nghe hoặc báo cáo viên chuẩn bị sẵn những câu hỏi liên quan đến nội dung bài giảng để hỏi người nghe hoặc tổ chức giao lưu, học hỏi kinh nghiệm về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật giữa báo cáo viên và người nghe, nhất là khi người nghe là những cán bộ tuyên truyền pháp luật...
Ngoài ra, cần xử lý các tình huống khác trong hội trường như: Học viên ngủ gật, nghe điện thoại di động, mất điện, học viên nói chuyện riêng...
5.3. Phần kết luận:
Là phần người nói thường điểm lại và tóm tắt những vấn đề cơ bản đã tuyên truyền. Tùy từng đối tượng mà nêu những vấn đề cần lưu ý đối với họ. Trong phần này, người nói sau khi đã phân tích, diễn giải cần phải tóm tắt lại những nội dung chính của buổi tuyên truyền miệng và những vấn đề cần lưu ý. Tuy nhiên với mỗi một đối tượng khác nhau sẽ có cách thức tóm tắt khác nhau căn cứ vào nhu cầu, lĩnh vực công tác của đối tượng.
5.4. Trả lời câu hỏi của người nghe:
Người nói cần dành thời gian cần thiết trả lời các câu hỏi mà người nghe quan tâm, chưa hiểu rõ. Đây là phần người nói có thể đánh giá được mức độ hiểu bài của người nghe; là dịp để người nói trao đổi những kinh nghiệm, hiểu biết của mình cho người nghe.
Tóm lại, hiệu quả của tuyên truyền miệng về pháp luật phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Để đạt hiệu quả tuyên truyền cao, người tuyên truyền cần phải dày công tích luỹ, chuẩn bị đề cương, phải có nghệ thuật vượt qua hàng rào ngăn cách ban đầu về mặt tâm lý, gây thiện cảm, gây sự chú ý của người nghe từ khi bắt đầu buổi nói chuyện; phải biết tạo ra nhu cầu, kích thích, hấp dẫn, gây ấn tượng cho người nghe trong suốt buổi nói; biết kết luận đúng cách để khi kết thúc còn đọng lại những điều cần thiết cho người nghe tiếp tục suy nghĩ.
Các kỹ thuật chụp ảnh cơ bản trong nhiếp ảnh bằng Smartphone
Chụp ảnh rất đơn giản nhưng không phải ai cũng biết cách tạo ra một tấm hình đẹp, việc trở thành nhiếp ảnh gia lại càng khó hơn nữa. Nếu bạn là một người đam mê chụp ảnh bằng smartphone thì các mẹo dưới đây sẽ giúp bạn có được những kỹ thuật để chụp hình đẹp bằng điện thoại.
Kỹ thuật chụp hình đẹp bằng điện thoại.
Thiết bị Camera trên điện thoại ngày càng được cải tiến hơn để đem lại những trải nghiệm mới cho người dùng. Nó gọn nhẹ, tiện lợi hơn những chiếc máy ảnh nặng trịch nhưng nó lại không có đầy đủ các tính năng như một máy ảnh thật sự. Nhưng nếu người dùng hiểu rõ, và sử dụng tối đa khả năng của nó thì sẽ nhận lại được những khung hình thật sự ấn tượng.
Kỹ thuật bố cục theo tỷ lệ 1/3
Để có thể chụp hình đẹp bằng điện thoại thì bố cục là một yếu tố mà bạn nên chú trọng. Bố cục nên chia theo tỷ lệ 1/3 đó chính là bạn chia khung ảnh làm 9 phần bằng nhau với 2 đường kẻ dọc và 2 đường kẻ ngang như hình minh họa dưới đây. Chúng ta đặt đối tượng cần chụp dọc theo một hay nhiều đường kẻ hay nơi các đường kẻ giao nhau.
Quy tắc này do các họa sĩ từ thời Phục hưng phát hiện ra, rằng mắt của người xem không rơi vào trung tâm của bức hình mà sẽ di chuyển ra các điểm lân cận đấy cho nên khi chụp hình theo quy tắc này sẽ giúp bức ảnh của bạn cuốn hút hơn.

Chụp ảnh theo quy tắc 1/3
Theo quy tắc này thì bạn nên đặt đối tượng cần chụp dọc theo các đường kẻ hoặc các điểm giao nhau thì vì đặt vào trọng tâm máy ảnh. Nó sẽ giúp bạn có được một bức hình selfie trên smartphone đẹp.

Chụp hình theo nguyên tắc 1/3
Bố cục trung tâm và đối xứng.
Trong những bối cảnh thích hợp thì chúng ta lại nên đặt đối tượng chụp ở giữa khung hình, nó sẽ đem lại cho bạn một bức hình tuyệt đẹp như đã mong muốn. Bố cục cân xứng từ tâm rất phù hợp cho cảnh vật đối xứng hai bên. Hãy thử phương pháp này, nó sẽ giúp bạn chụp hình đẹp bằng điện thoại của mình hơn.

Chụp ảnh theo bố cục đối xứng từ trục tâm
Tạo khung bên trong khung hình.
Bạn có thể tăng chiều sâu của bức ảnh bằng cách chụp khung lồng trong khung, sử dụng các khung có sẵn như ô cửa sổ, cây cối hoặc bất kỳ thứ gì làm khung quanh chủ thể. Sử dụng bố cục khung nằm trong khung là cách thú vị giúp bạn thể hiện những sáng tạo tuyệt vời về bố cục với cảm nhận môi trường xung quanh của bạn. Đây là một cách đơn giản và dễ dàng giúp bạn chụp hình đẹp bằng điện thoại của mình.

Kỹ thuật chụp ảnh khung lồng trong khung.
Đường thẳng dẫn lối.
Đường thẳng dẫn hướng tới đối tượng giúp thu hút mắt người xem tới những điểm quan trọng cần chú ý. Đôi khi đường dẫn hướng không nhất thiết phải thẳng, các đường cong cũng rất thú vị và hấp dẫn.

Chụp ảnh sử dụng phương pháp đường thẳng dẫn lối.
Trong bức ảnh trên, con đường dẫn hướng mắt của chúng ta qua bên phải trước khi rẽ sang trái. Trong bức ảnh này cũng được sử dụng quy tắc 1/3.
Đường chéo và hình tam giác.
Người ta thường cho rằng yếu tố tạo hình theo kiểu tam giác và đường chéo sẽ giúp có thêm sự kịch tính cho bức ảnh. Vậy kịch tính có nghĩa là gì? Nó phụ thuộc vào cảm nhận mỗi người.
Các đường ngang và dọc cho ta thấy được sự ổn định. Nếu bạn thấy một người đứng trên mặt phẳng nằm ngang, bạn sẽ cảm thấy anh ta khá vững chãi, nhưng nếu ở trên con dốc thì lại khác. Vì vậy chúng ta không nên áp dụng chụp ảnh đường chéo cho cuộc sống hằng ngày, chúng sẽ tạo nên sự bất ổn. Nhưng khi kết hợp đường chéo và tam giác sẽ tạo ra một bức ảnh “kịch tính”.

Phương pháp chụp ảnh tam giác kết hợp đường chéo.
Tạo khoảng trống rộng.
Để lại nhiều không gian trống xung quanh chủ thể của bạn có thể tạo thêm sự hấp dẫn. Nó tạo ra cảm giác của sự đơn giản. Giống như lấp đầy khung ảnh, nó giúp người xem tập trung vào chủ thể chính mà không gây ra sự phân tâm.

Tạo khoảng trống rộng bên trong bức ảnh.
Bức tượng rõ ràng là tiêu điểm chính nhưng lại để rất nhiều không gian trống bầu trời quanh nó. Điều này giúp thu hút ánh nhìn vào bức tượng, bố cục tạo cảm giác đơn giản nhưng lại đẹp mắt.
Các bạn hãy ghi nhớ và áp dụng thử những kỹ thuật nêu trên cho những khung hình của bản thân vì nó sẽ giúp bạn selfie trên smartphone đẹp.
Biểu mẫu liên quan
BẢNG PHÂN CÔNG NHIỆM VỤ
Chương trình: … (tên chương trình)
Thời gian : ………………
Địa điểm : ………………
Trang phục : ………………
|
Nội dung công việc |
Người/nhóm phụ trách |
Thời gian hoàn thành |
|
Xây dựng kịch bản tổng quát, chi tiết |
Tổ Nội dung |
Trước ngày … |
|
Soạn lời dẫn MC, chuẩn bị tài liệu |
Tổ Nội dung |
Trước ngày … |
|
Điều hành, giám sát toàn bộ chương trình |
Ban Tổ chức (Trưởng ban) |
Trong suốt chương trình |
|
Trang trí hội trường, sân khấu, băng rôn, bàn ghế |
Tổ Hậu cần |
Hoàn thành trước 1 ngày |
|
Chuẩn bị hoa, quà tặng, nước uống |
Tổ Hậu cần |
Hoàn thành trước 1 ngày |
|
Đón tiếp, hướng dẫn, sắp xếp chỗ ngồi |
Tổ Lễ tân |
Trước & trong chương trình |
|
Văn nghệ chào mừng, trò chơi xen kẽ |
Tổ Văn nghệ – Trò chơi |
Theo kịch bản |
|
Chuẩn bị & vận hành âm thanh, ánh sáng, màn chiếu |
Tổ Kỹ thuật – Âm thanh Ánh sáng |
Trước & trong chương trình |
|
Dẫn dắt chương trình |
MC (tên : …….……) |
Trong suốt chương trình |
|
Ghi hình, chụp ảnh, viết tin, truyền thông |
Tổ Truyền thông |
Trong & sau chương trình |
|
Báo cáo tổng kết, lưu trữ tư liệu |
Ban Tổ chức Và Tổ Truyền thông |
Sau chương trình (trước ngày …) |
6.5 Kỹ năng tuyên truyền miệng gồm: kỹ năng chuẩn bị và kỹ năng tiến hành hoạt động tuyên truyền miệng.
Tuyên truyền miệng là hoạt động dùng lời nói trực tiếp tác động đến một nhóm đối tượng xác định nhằm mục đích nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin và cổ vũ tính tích cực hành động của họ.
Chỉ thị số 17-CT/TW, ngày 15/10/2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về “Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới” nêu rõ: ‘công tác tuyên truyền miệng, hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên là một trong những kênh thông tin quan trọng nhất, … Tuyên truyền miệng và đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên là một mắt khâu quan trọng, trực tiếp nối liền Đảng, Nhà nước với nhân dân, Trung ương với địa phương và cơ sở để vừa đưa chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước đến với nhân dân, vừa nắm bắt, phản ánh trung thực, kịp thời tư tưởng, tâm tư, nhu cầu, lợi ích, nguyện vọng của nhân dân đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước; gắn truyền đạt với đối thoại, trao đổi, truyền tải trực tiếp những thông tin nội bộ cần thiết phục vụ công tác tư tưởng đối với tất cả các đối tượng ở mọi hoàn cảnh, điều kiện một cách linh hoạt”.
Tuyên truyền miệng và hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên được xác định là quan trọng và cần thiết. Vì vậy, đòi hỏi báo cáo viên muốn thực hiện tốt trọng trách này phải thực hiện thuần thục các kỹ năng tuyên truyền miệng cơ bản nhất.
Kỹ năng tuyên truyền miệng là sự vận dụng có hệ thống, linh hoạt kiến thức, kinh nghiệm vào các thao tác trong chuỗi hoạt động dùng lời nói trực tiếp tác động đến một nhóm đối tượng xác định một cách phù hợp để thực hiện hiệu quả chuỗi hoạt động đó.
Hoạt động dùng lời nói tác động vào nhóm đối tượng xác định được nhìn từ góc độ thời gian sẽ bao gồm hai quá trình nối tiếp nhau: chuẩn bị và tiến hành hoạt động tuyên truyền miệng. Do vậy kỹ năng tuyên truyền miệng là tập hợp những kỹ năng thuộc hai quá trình này bao gồm: kỹ năng chuẩn bị và kỹ năng tiến hành hoạt động tuyên truyền miệng.
Đi sâu phân tích kỹ năng chuẩn bị hoạt động tuyên truyền miệng, có thể thấy, để hoạt động tuyên truyền miệng được diễn ra một cách khoa học, chuyên nghiệp, báo cáo viên phải tiến hành các thao tác chuẩn bị nội dung bài tuyên truyên miệng và các thao tác ngoài nội dung. Trong đó, chuẩn bị nội dung là công đoạn cần đầu tư nhiều thời gian và công sức nhất, góp công lớn vào hiệu quả hoạt động của báo cáo viên.
Để khâu trình bày thuận lợi phải có dàn ý tốt. Muốn vậy, báo cáo viên phải tiến hành 5 thao tác sau: Nghiên cứu đặc điểm đối tượng; Xác định mục đích, nội dung; Thu thập, xử lý tài liệu; Lập dàn ý và Lựa chọn ngôn ngữ, văn phong.
Về nghiên cứu đối tượng tiếp nhận bài tuyên truyền miệng
Muốn công tác tuyên truyền miệng hiệu quả, báo cáo viên phải căn cứ vào người nghe thực tế mà xác định nội dung, lựa chọn phương pháp, phương tiện tác động. Đối tượng khác nhau, nội dung, phương pháp, hình thức trình bày phải khác nhau. Do vậy, nghiên cứu đối tượng là công việc đầu tiên người nói phải tiến hành. Nghiên cứu đối tượng gồm những nội dung: Nghiên cứu đặc điểm về mặt xã hội - nhân khẩu: các đặc điểm về thành phần xã hội, giai cấp, nghề nghiệp, học vấn, giới tính, tuổi tác,... của đối tượng; Nghiên cứu các đặc điểm về tư tưởng và tâm lý - xã hội: hệ thống các quan điểm, chính kiến, động cơ, khuôn mẫu tư duy, tâm trạng và trạng thái thể chất... của họ; Nghiên cứu về nhu cầu, thị hiếu thông tin; thái độ của người nghe đối với nguồn thông tin và nội dung thông tin; con đường, cách thức thỏa mãn nhu cầu thông tin của đối tượng. Trên cơ sở nghiên cứu về các đặc điểm này mà xác định mục đích, nội dung, phương pháp nói phù hợp. Nếu người nghe là nhóm trẻ cần tăng thời gian đối thoại, hạn chế thuyết trình. Nếu người nghe là cán bộ đảng viên cần đưa nhiều ví dụ về tình hình thời sự quốc tế và trong nước. Nếu người nghe là phụ nữ nên đưa ví dụ về chăm sóc gia đình, chăm sóc sắc đẹp, nuôi dạy con cái, …
Về xác định mục đích, nội dung bài tuyên truyền miệng
Xác định mục đích có ý nghĩa định hướng đối với thao tác chuẩn bị nội dung bài tuyên truyền miệng.
Xét ở cả hai phương diện lý luận và thực tiễn, nội dung bài tuyên truyền miệng có thể đề cập đến các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, an ninh, quốc phòng, đối ngoại; từ những vấn đề lý luận, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đến các sự kiện đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội... Nhưng để tạo khả năng thu hút sự chú ý của người nghe, đạt mục đích tuyên truyền đặt ra, nội dung bài tuyên truyền miệng, phải đạt tới các yêu cầu: (1) Thông tin cung cấp cho người nghe phải mới; (2) Thông tin phải thiết thực, đáp ứng nhu cầu của một nhóm công chúng cụ thể; (3) Thông tin phải mang tính thời sự, cấp thiết; (4) Thông tin phải đảm bảo tính tư tưởng và tính chiến đấu.
Bài nói có thể chỉ đạt một trong ba hoặc cả ba mục đích nhưng nhất thiết phải đảm bảo đủ bốn yêu cầu về nội dung. Tuỳ vào mỗi thể loại để tăng giảm hàm lượng của 4 yêu cầu nói trên. Nếu là thể loại Giới thiệu Nghị quyết Đảng thì yêu cầu số 4 phải đậm đặc nhất. Nếu là thể loại Nói chuyện thời sự thì yêu cầu số 3 giữ ngôi vị quán quân. Nếu là Báo cáo chuyên đề thì yêu cầu số 1 giữ nguyên vị trí.
Về lựa chọn, nghiên cứu, sử dụng tài liệu cho bài tuyên truyền miệng
Thu thập, lựa chọn tài liệu là một nhiệm vụ quan trọng vì nó là căn cứ để xây dựng nội dung bài tuyên truyền miệng và là yếu tố tạo ra chất lượng cho một buổi nói chuyện.
Nguồn tài liệu quan trọng nhất mà báo cáo viên sử dụng để xây dựng dàn ý bài tuyên truyền miệng được lấy từ hội nghị báo cáo viên cấp trên, từ các tài liệu học tập nghị quyết do Ban Tuyên giáo Trung ương phát hành, từ phương tiện truyền thông đại chúng. Người làm công tác tuyên truyền miệng phải có kiến thức vững chắc và hệ thống về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tri thức của nhận loại để trên cơ sở đó đánh giá, phân tích các sự kiện, hiện tượng được đề cập đến trong bài nói.
Khi sử dụng các tài liệu mật, thông tin nội bộ cần xác định rõ vấn đề nào không được nói, hoặc chỉ được nói đến đối tượng nào. Trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, cần thiết phải định hướng thông tin theo quan điểm của Đảng. Thu thập và xử lý tài liệu đòi hỏi các báo cáo viên phải đầu tư thời gian và trí tuệ. Lượng đầu tư này tỉ lệ thuận với thành công của báo cáo viên ở các công đoạn tiếp theo. Cần tiến hành thu thập thông tin, tạo ra tài liệu sơ cấp đưa vào bài nói cho sinh động và hấp dẫn, mới mẻ.
Về lập dàn ý bài tuyên truyền miệng
Dàn ý bài tuyên truyền miệng là công cụ báo cáo viên dùng để tiến hành buổi truyền đến người nghe. Cần xây dựng nhiều phương án cho dàn ý, từ đó chọn phương án tối ưu. Phương án tối ưu là phương án phù hợp với nhóm đối tượng cụ thể, xác định. Quá trình lập dàn ý có thể nâng cấp dần từ thấp lên cao, từ sơ bộ đến chi tiết. Đối với những chủ đề quan trọng, có phạm vi tác động bao trùm, được trình bày trước những đối tượng có trình độ cao, dàn ý phải được chuẩn bị chi tiết đến từng luận cứ.
Dàn ý được kết cấu bởi ba phần: Phần mở đầu, thân bài và phần kết luận. Mỗi phần có chức năng, yêu cầu, phương pháp riêng.
(1) Phần mở đầu của bài tuyên truyền miệng là phần dẫn nhập cho nội dung cần truyền đạt, là phương tiện giao tiếp ban đầu với người nghe, kích thích sự hứng thú của người nghe đối với nội dung bài tuyên truyền miệng. Phần này tuy ngắn, nhưng rất quan trọng, nhất là với đối với đối tượng mới tiếp xúc lần đầu, đối tượng là người có trình độ học vấn cao. Phần mở đầu phải tự nhiên và gắn với các phần khác của bài tuyên truyền miệng cả về nội dung và phong cách ngôn ngữ; Phải ngắn gọn, độc đáo và hấp dẫn đối với người nghe. Mở đầu thường chiếm 15% tổng lượng bài tuyên truyền miệng.
Có nhiều cách mở đầu nhưng có thể khái quát thành hai cách mở đầu chủ yếu: trực tiếp và gián tiếp. Mở đầu trực tiếp là cách mở đầu giới thiệu thẳng với người nghe nội dung sẽ trình bày. Mở đầu trực tiếp được cấu trúc bởi hai phần: nêu chủ đề chung bài tuyên truyền miệng và các chủ đề bộ phận/nội dung chính phần thân bài. Mở đầu gián tiếp là cách mở đầu không giới thiệu thẳng chủ đề bài nói mà dẫn ra một nội dung khác có liên quan, gần gũi với chủ đề chính nhằm tạo bối cảnh, chuẩn bị sân khấu cho chủ đề xuất hiện. Cách mở đầu này tạo cho bài tuyên truyền miệng sự sinh động, hấp dẫn đối với người nghe, có thể giúp họ chuyển từ tâm thế trung lập sang khẳng định, từ phủ định sang khẳng định.
Mở đầu gián tiếp được cấu trúc bởi ba phần: dẫn dắt vấn đề, nêu chủ đề chung và các chủ đề bộ phận/nội dung chính phần thân bài
(2) Phần thân của bài tuyên truyền miệng là phần quan trọng nhất của bài tuyên truyền miệng, chiếm khoảng 70% dung lượng toàn bài. Nhiệm vụ trọng tâm nhất của phần này là báo cáo viên phải nêu bật được nội dung cốt lõi, phân tích, giải thích, chứng minh làm sáng tỏ vấn đề cần tuyên truyền để từ đó giúp người nghe biết, hiểu, tin tưởng, có động lực thực hiện hành vi mà báo cáo viên kêu gọi trong buổi tuyên truyền.
Có một số kiểu bố cục phần thân của bài tuyên truyền miệng như sau: Kết cấu theo thời gian, Kết cấu theo trật tự không gian, Kết cấu theo trật tự nhân quả, Kết cấu theo trật tự vấn đề giải pháp, Kết cấu theo trật tự chuỗi tác động, Kết cấu trật tự theo chủ đề.
(3) Phần kết luận của bài tuyên truyền miệng là phần không thể thiếu trong cấu trúc một bài nói, góp phần làm cho bố cục bài nói trở nên cân đối, lôgic, có tác dụng khái quát và nhấn mạnh điều đã nói.
Phần kết luận có các chức năng đặc trưng sau: Tổng kết những nội dung chính của bài tuyên truyền miệng; Củng cố và làm tăng ấn tượng về nội dung tuyên truyền; Đặt ra những nhiệm vụ nhất định và kêu gọi người nghe đi đến hành động. Kết luận phải giàu cảm xúc, ngắn gọn – chiếm khoảng 15% dung lượng toàn bài.
Phần kết luận được cấu trúc bởi hai phần: tóm tắt và kêu gọi hành động/định hướng nhận thức.
Mở bài và kết luận cho bài tuyên truyền miệng là một công việc khó khăn, đòi hỏi báo cáo viên phải đầu tư công phu. Chúng hấp dẫn, lôi cuốn, gây ấn tượng đối với người nghe sẽ giúp họ ghi nhớ nội dung bài nói tốt hơn, làm cơ sở cho việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách sau buổi tuyên truyền
Về lựa chọn ngôn ngữ, văn phong cho bài tuyên truyền miệng
Bài tuyên truyền miệng miệng sử dụng lời nói trực tiếp nhưng xét trên phương diện phong cách chức năng thì nó thuộc phong cách chính luận nên phải đảm bảo một số đặc điểm về mặt ngôn ngữ của thể loại như sau: tính chuẩn xác, tính thuật ngữ, tính bình giá công khai, tính phổ thông, tính biểu cảm.
Ngôn ngữ có nhiều cách phân chia, nếu căn cứ vào phương tiện tác động, có thể chia ngôn ngữ thành 3 nhóm: ngôn từ, cận ngôn ngữ và ngoại ngôn ngữ. Ngôn từ là tất cả các đơn vị của 1 thứ tiếng nào đó cùng với các quy tắc cấu tạo từ đơn vị nhỏ đến đơn vị lớn hơn như: từ, cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản. Cận ngôn ngữ là những yếu tố luôn đi cùng với ngôn từ như: cao độ, trường độ, tốc độ, trọng âm, sự ngừng giọng. Ngoại ngôn ngữ là thông điệp không được mã hoá bằng ngôn từ; bao gồm ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ vật thể và ngôn ngữ môi trường. Ngôn ngữ cơ thể gồm: ánh mắt, nét mặt, nụ cười, cử chỉ đôi tay, điệu bộ; Ngôn ngữ vật thể gồm: quần áo, phụ kiện (túi xách, bút, kính, dàn ý bài nói, bìa kẹp dàn ý, máy tính, bút lật trang, đồng hồ đeo tay, nhẫn, vòng, dây chuyền, giày, kẹp tóc, ...; Ngôn ngữ môi trường gồm: vị trí đứng, khoảng cách giao tiếp, địa điểm phát biểu, ...
Báo cáo viên phải biết lựa chọn các phương tiện trên sao cho phù hợp nhất với nội dung, bối cảnh phát phát biểu nhằm đạt hiệu quả tối ưu cho buổi tuyên truyền miệng.
Trên đây là 5 thao tác phải làm khi xây dựng đề cương bài tuyên truyền miệng nói chung. Bên cạnh các thao tác chuẩn bị nội dung, báo cáo viên phải thuần thục các nhóm thao tác chuẩn bị ngoài nội dung như: chuẩn bị cho diện mạo, sức khoẻ, thời gian, địa điểm, tâm lý, phương án dự phòng, …
Về chuẩn bị diện mạo: Chọn trang phục lịch sự, phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, thời tiết, với vóc dáng và với địa điểm nơi đứng nói. Báo cáo viên nữ không nên đi giày có gót quá cao, khoảng 5 – 7 cm là hợp lý. Báo cáo viên nữ nên trang điểm đậm hơn so với giao tiếp bình thường, không nên đeo quá nhiều phụ kiện làm phân tán sự chú ý của người nghe.
Về chuẩn bị thời gian và địa điểm: Thời gian tổ chức buổi tuyên truyền miệng tốt nhất là vào buổi sáng hoặc buổi chiều, không nên nói vào buổi trưa. Buổi sáng người nghe thường tỉnh táo nên có thể dùng mở bài trực tiếp theo lối độc thoại. Buổi chiều nên mở bài gián tiếp theo lối đối thoại vì người nghe thường chưa tỉnh táo sau bữa trưa, giấc ngủ ngắn. Thời gian diễn ra buổi nói chuyện ảnh hưởng đến cách thức tác động lên đối tượng nên báo cáo viên cần biết trước để lên kịch bản tiến hành.
Địa điểm hợp lý có đóng góp đáng kể cho chất lượng buổi tuyên truyền miệng. Kích thước hội trường nên phù hợp với số lượng người nghe. Nếu người nghe ít, hội trường rộng nên mời họ ngồi ở những hàng ghế đầu. Nên bố trí người nghe đến trước ngồi cách xa cửa ra vào sao cho người đến sau không làm họ bị phân tán sự chú ý. Hội trường cần đủ ánh sáng, khuôn mặt của báo cáo viên phải được chiếu sáng vừa đủ. Không nên tổ chức buổi nói chuyện trong các phòng chật chội, nóng bức, nơi có nhiều tiếng động, ồn ào... Các nghiên cứu về môi trường truyền thông cho thấy: “nếu nhiệt độ không khí nóng quá 300c, hoặc tiếng ồn cao hơn 60 đề - xi - ben thì môi trường truyền thông sẽ tạo nhiễu, ảnh hưởng tới sự tiếp thu thông tin. Trong hội trường không nên trang trí quá nhiều tranh ảnh dễ chi phối sự chú ý của người nghe.
Về chuẩn bị về thể chất và tinh thần, sức khỏe và tâm lý: Cần có chế độ ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý, không ăn món ăn lạ, không uống rượu bia trước khi đi phát biểu. Hầu hết các báo cáo viên đều tỏ ra lo lắng trước khi thực hiện nhiệm vụ. Đây là trạng thái tâm lý bình thường. Cần chuẩn bị kỹ mọi công đoạn, tư duy tích cực để tâm lý ổn định hơn. Cần áp dụng kỹ năng định vị giao tiếp để thấy rõ vai trò của mình mà vững tâm hơn.
Về chuẩn bị phương tiện, thiết bị trình bày bài nói. Kiểm tra lại xem dàn ý đã được in ra chưa, kích cỡ phù hợp chưa. Máy tính, bút lật trang sạc đủ điện chưa, kính mắt có dùng đến không, các giáo cụ trực quan khác đã đầy đủ chưa, … Một loạt các câu hỏi cần được đặt ra và trả lời.
Bên cạnh đó, cần chuẩn bị phương án ứng phó với những tình huống phát sinh như: mất điện, không mang theo đề cương, máy tính không kết nối được, có kết nối nhưng không hiển thị lên màn hình, người nghe đến muộn, người nghe đến ít hơn/ nhiều hơn so với số lượng đã triệu tập, người nghe liên tục đặt ra những câu hỏi chất vấn, sơ hở trong trang phục, …
Trên đây là những thao tác của kỹ năng chuẩn bị cho hoạt động tuyên truyền miệng, yếu tố dẫn đến thành công của báo cáo viên khi thực hiện công tác tuyên truyền miệng. Những công việc ngoài nội dung cần phải chuẩn bị như trình bày ở trên cùng với dàn ý được soạn công phu sẽ giúp báo cáo viên tự tin khi thực hiện nhiệm vụ trên thực địa. Các kỹ năng chuẩn bị nội dung là điều kiện cần, các kỹ năng chuẩn bị ngoài nội dung (chuẩn bị trước khi xuất hiện trước người nghe) là điều kiện đủ cho sự xuất hiện hoàn hảo của báo cáo viên